Người Thái
Có nguồnCập nhật 25/10/2026

Nguồn: Báo Nhân Dân
- Tên gọi:
- Người Thái
- Tên gọi khác:
- Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tày Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ
- Nhóm ngôn ngữ:
- Tày - Thái – Thái - Kađai
- Dân số:
- 1.820.950 người (năm 2019)Nguồn: Tổng cục Thống kê – Đặc trưng cơ bản của 53 dân tộc thiểu số năm 2019
- Địa bàn cư trú:
- Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An, Một số tỉnh Tây Nguyên (di cư từ đầu thập niên 1990)Theo tài liệu nguồn; tên tỉnh có thể là tên trước sắp xếp đơn vị hành chính 2025.
Giới thiệu chung
Người Thái có cội nguồn ở Đông Nam Á lục địa, đến Việt Nam từ rất sớm và gồm hai nhóm địa phương chính là Thái Trắng và Thái Đen. Địa bàn truyền thống trải từ Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu tới miền tây Thanh Hóa, Nghệ An; từ đầu những năm 1990 một bộ phận đã chuyển cư vào Tây Nguyên. Nguồn đánh giá thiết chế bản mường là dấu hiệu của trình độ tổ chức xã hội cao, bên cạnh điệu xòe và chuỗi lễ nông nghiệp đặc sắc.
Trang phục
Phụ nữ Thái Trắng mặc áo cánh trắng cài cúc bạc, váy đen, khăn chàm dài; phụ nữ Thái Đen mặc áo tối màu, thiếu nữ đội khăn piêu thêu, người đã có chồng búi tóc tằng cẩu.
Phong tục và tập quán
Thờ tổ tiên, thần nông nghiệp, thần sông núi; trong năm có lễ xuống đồng, cầu mưa, rước hồn lúa, cầu mùa và mừng cơm mới. Cưới xin, tang ma theo nghi thức truyền thống khá chặt chẽ.
Nghệ thuật
Nổi bật là múa xòe, hát thơ và đối đáp giao duyên cùng sáo, tiêu; trò chơi dân gian gồm ném còn, kéo co, đua ngựa, bắn nỏ, chơi quay.
Nhà ở
Người Thái ở nhà sàn; nhà Thái Đen có mái khum hình mai rùa, nhà Thái Trắng mặt bằng chữ nhật với lan can gỗ, và cầu thang là chi tiết kiến trúc đặc trưng.
Sinh kế
Làm lúa nước kết hợp nương rẫy, trồng xen đậu tương, ngô, khoai, sắn; nuôi lợn, trâu, dê và tằm, cùng nghề dệt, đan lát. Thu nhập từ du lịch và buôn bán đang tăng dần.
Ảnh và tư liệu


