Văn hóa

Người Xinh Mun: cư dân lâu đời của vùng biên giới Tây Bắc

Sống chủ yếu ở các huyện biên giới Việt – Lào của Sơn La, người Xinh Mun vẫn giữ nhiều tập quán riêng về nhà ở, hôn nhân, tang ma và thờ cúng tổ tiên.

3 phút đọc

Bài mẫu: nội dung được biên soạn lại từ nguồn ghi ở cuối bài, chờ ban biên tập rà soát trước khi sử dụng chính thức.

Người dân tộc Xinh Mun ở Tây Bắc
Người Xinh Mun là một trong những dân tộc thiểu số có lịch sử lâu đời nhất ở vùng Tây Bắc. (Ảnh: THÀNH ĐẠT) — Nguồn: Báo Nhân Dân

Người Xinh Mun được xếp vào nhóm cư dân có mặt sớm nhất ở vùng Tây Bắc, có nguồn gốc ở Tây Bắc Việt Nam và Bắc Đông Dương. Ngoài tên tự gọi Xinh Mun, dân tộc này còn được biết đến với các tên Puộc, Xá, Pnạ; trong cộng đồng có các nhóm địa phương như Xinh, Mun Dạ và Xinh Mun Nghẹt.

Theo kết quả Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 01/4/2019 mà Báo Nhân Dân dẫn lại, người Xinh Mun có 29.503 người, gồm 14.793 nam và 14.710 nữ, bình quân 4,7 người mỗi hộ, và 99,4% sống ở nông thôn. Địa bàn cư trú tập trung tại các huyện biên giới Việt – Lào của tỉnh Sơn La, chủ yếu là Yên Châu, Sông Mã, Mộc Châu; một bộ phận nhỏ sống ở huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

Ngôn ngữ, ăn mặc và nếp nhà

Tiếng Xinh Mun thuộc nhóm Môn – Khơ Me, ngữ hệ Nam Á. Do cộng cư lâu đời, người Xinh Mun nói thạo tiếng Thái; trước đây một số người biết chữ Thái, nay dùng chữ phổ thông. Trang phục của họ tương tự trang phục người Thái.

Trong ăn uống, đồng bào dùng cả cơm nếp lẫn cơm tẻ, ưa vị cay, uống rượu cần, có tục ăn trầu và nhuộm răng đen. Nhà truyền thống là nhà sàn, gọi là ziêng, với mái hồi thường làm khum tròn như mai rùa. Việc dựng nhà mới là việc chung của cả bản: thường tiến hành sau vụ gặt, đất làm nhà được chọn bằng cách bói; các ngày mùng 2, 6, 8, 9 âm lịch được coi là thuận, còn mùng 1 và mùng 7 là ngày phải kiêng.

Gia đình nhỏ phụ quyền là phổ biến, song nhiều nơi vẫn duy trì đại gia đình ba thế hệ hoặc nhiều anh em trai đã có vợ cùng chung sống. Một nhà thường có 10–15 người, có nhà lên tới 20–30 người. Vì và Lò là hai họ phổ biến nhất.

Từ tục ở rể đến lễ cúng bản

Tục ở rể của người Xinh Mun rất phổ biến. Trước kia, chàng trai ở rể khoảng 8–12 năm, thậm chí cả đời nếu nhà gái không có con trai. Khi thành vợ chồng, đôi trẻ được bố mẹ vợ hoặc người cậu đặt cho một tên chung, có khi phải bói âm dương để chọn. Sau lễ cưới, hai người về nhà trai 2–3 ngày rồi chuyển hẳn sang nhà gái; chỉ khi mãn hạn ở rể, thường là lúc đã có con, mới làm lễ đưa dâu về nhà trai, sau đó vài ngày hoặc một năm có lễ lại mặt.

Phụ nữ mang thai vẫn lên nương, vào rừng cho đến ngày sinh. Trẻ gần tròn một tuổi, gia đình mới mời thầy cúng làm lễ đặt tên. Khi trong nhà có người mất, tiếng súng là hiệu báo tin; người chết được liệm trong bó cót thay cho quan tài gỗ, chỗ đào huyệt được chọn bằng cách ném trứng, trứng vỡ ở đâu thì đào ở đó. Nhà mồ được làm cẩn thận, nhưng người Xinh Mun không có tục cải táng hay tảo mộ.

Đồng bào thờ tổ tiên hai đời là cha mẹ và ông bà. Biểu tượng nơi thờ gồm xương hàm lợn, miếng trầu đặt trên nắp giỏ cơm và ống tre đựng nước; lễ cúng được làm vào dịp cơm mới, đám cưới, vào nhà mới. Bố mẹ vợ được thờ riêng trong một lán nhỏ cạnh nhà. Lễ cúng bản hằng năm được cả cộng đồng coi trọng.

Chuyển đổi sinh kế

Sau năm 1954, đặc biệt từ khi thực hiện định canh định cư và xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, người Xinh Mun dần thay đổi cách sản xuất: bên cạnh nương rẫy, họ làm thủy lợi nhỏ để khai phá ruộng bậc thang trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm và đào ao thả cá. Dù vậy, đời sống còn nhiều khó khăn: theo số liệu năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo là 65,3%, hộ cận nghèo 9,4%.

Nguồn: https://nhandan.vn/dan-toc-xinh-mun-post723897.html

Bản quyền nội dung thuộc tác giả và Cộng đồng 54 Dân tộc Việt Nam. Khi trích dẫn, vui lòng ghi rõ nguồn và dẫn liên kết tới bài gốc — xem Chính sách bản quyền.

Báo lỗi nội dung / Đề xuất đính chính